Thu04252019

Last update01:50:10 AM

Danh sách ủng hộ vật chất cho Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập trường

  • PDF.

Kỷ niệm 40 năm thành lập trường THPT Thanh Chương 3 đã thành công tốt đẹp.

Nhà trường trân trọng và chân thành cảm tạ sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và đoàn thể, các Sở, Ban, Ngành cấp tỉnh, huyện, các địa phương cụm Cát Ngạn, các doanh nghiệp;

Nhà trường trân trọng và chân thành cảm tạ các quý vị Đại biểu, quý thầy cô giáo qua các thế hệ, các anh chị em cựu học sinh và đông đảo nhân dân đã tham dự. Nhà trường cũng hết sức cảm tạ sự đóng góp to lớn về tinh thần và vật chất của các anh chị cựu học sinh, quà tặng của các Đại biểu và đặc biệt là quà tặng của Tiến sỹ Võ Văn Hồng đối với nhà trường và quê hương.

Sau đây chúng tôi công bố danh sách (video chất lượng cao) các tập thể, cá nhân đã ủng hộ vật chất cho Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập trường. Trong quá trình lập danh sách này, do sơ suất mà một số tập thể, cá nhân bị thiếu ủng hộ còn thiếu thông tin. Rất mong được lượng thứ.

Get Adobe Flash player

Cập nhật ngày Thứ năm, 03 Tháng 12 2015 11:49

Dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

  • PDF.

Các trường sư phạm sẽ phải chú trọng nhiều hơn đến công tác bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

GD&TĐ - "Bản chất của dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng là tổ chức quá trình người học lĩnh hội nội dung dạy học theo logic nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng".

Đó là chia sẻ của tiến sỹ Lê Thanh Huy và thạc sỹ Bùi Văn Vân - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

Quá trình dạy học là một chu trình liên tục

“Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng giúp các nhà giáo tương lai không chỉ hình thành được tri thức và kỹ năng nghề nghiệp mà ngay từ khi còn trên ghế nhà trường đã thấm nhuần, do chính người học phát hiện, nghề dạy học của xã hội hiện đại luôn thay đổi, hoạt động sư phạm hiệu quả là nắm bắt được sự thay đổi để đi trước sự phát triển”.

Tiến sỹ Lê Thanh Huy

Theo đó, trình tự logic của nghiên cứu khoa học có thể được mô hình hóa qua các giai đoạn cơ bản như sau: Áp dụng mô hình này vào việc dạy học với tư cách một phương pháp dạy học chúng ta xây dựng trật tự tương tự trong thiết kế từng môn học và từng vấn đề trong nội dung môn học, bài học.

Việc nghiên cứu một môn học hay một bài học sẽ bắt đầu từ việc người dạy cùng với người học phát hiện, đặt ra vấn đề cần giải quyết từ việc phân tích hiện trạng giáo dục trong khuôn khổ bài học, chủ đề môn học và liên môn.

"Ở đây có thể là những vấn đề mà người dạy đã biết câu trả lời hoặc là một vấn đề mới của khoa học. Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn này người học phải tiến hành nhiều hoạt động học khác nhau, phân tích hiện trạng giáo dục, nghiên cứu tài liệu, phân tích tổng hợp tài liệu lý thuyết, tìm đọc nhiều công trình nghiên cứu giáo dục bàn về các vấn đề tương tự" - tiến sỹ Lê Thanh Huy chia sẻ.

Giai đoạn tiếp theo sẽ là giải quyết vấn đề đặt ra thông qua hoạt động tác động sư phạm do người học tiến hành, phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để thu thập thông tin, xử lý thông tin.

Ở đây công việc của người dạy là hướng dẫn và trợ giúp, công việc của người học là người thực hiện việc giải quyết vấn đế. Điểm mấu chốt của giai đoạn này là người học phải sáng tạo ra câu trả lời thông qua hoạt động nghiên cứu.

Mức độ sáng tạo có thể không lớn, có thể chỉ là sự áp dụng những nguyên tắc, quy trình đã được nghiên cứu vào nhữn điều kiện cụ thể và mới, nhưng vẫn phải là sáng tạo chư không phải nói lại những lời giải có sẵn.

Giai đoạn cuối là sẽ đánh giá việc đặt và giải quyết vấn đề, trên cơ sở đó đặt ra những vấn đề mới để giải quyết. Việc đánh giá này được thực hiện theo quy chế đánh giá đề tài nghiên cứu khoa học. Cứ như vậy toàn bộ quá trình dạy học sẽ là một chu trình liên tục đặt, giải quyết, đánh giá các vấn đề.

Có thể mô phỏng quá trình dạy học như một chuỗi hoạt động cùng nhau liên tục của người dạy và người học như sau: Chẳng hạn như khi dạy học phần phương pháp dạy học môn Vật lý, để dạy học một phương pháp cụ thể như phương pháp dạy học nêu trên và giải quyết vấn đề.

Giảng viên sẽ tổ chức dạy như sau: Dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, đáp ứng được những nguyên tắc dạy học của giáo dục đại học hiện đại: Bảo đảm vị thế tích cực, chủ động của người học, hình thành phương pháp làm việc khoa học, phát triển hứng thú nhận thức, bảo đảm tốt nhất yêu cầu cá biệt hóa dạy học, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức, nhân cách của người học trưởng thành, bảo đảm xu hướng hướng dân chủ hóa nhà trường; phù hợp với điều kiện không gian và thời gian của việc đào tạo trong xã hội hiện đại.

Vị trí việc làm trực tiếp chủ yếu của sinh viên sư phạm là những giáo viên đứng lớp hoặc thực hành quản lý nhà trường, năng lực thực hành và những phẩm chất tâm lý đồng hành với năng lực ấy là công cụ giúp họ hoàn thành sứ mệnh của mình.

Vượt qua giới hạn "giáo trình truyền thống"

Theo tiến sỹ Lê Thanh Huy và thạc sỹ Bùi Văn Vân, trong chương trình dạy học môn Giáo dục và môn Phương phương pháp dạy học bộ môn cần định hương thứ bậc ưu tiên cho những chủ đề thực tiễn, nhất là thực tiễn về nội dung dạy học, giáo dục, phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại, kỹ thuật và hình thức dạy học mới.

Đối với môn Tâm lý học cần định hướng thứ bậc ưu tiên cho các chủ đề, các yếu tố và biện pháp phát triển từng lĩnh vực nhan cách học sinh, nhân cách giáo viên.

Học phần Nghiên cứu khoa học giáo dục cần định hướng chủ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, các thiết kế nghiên cứu, kỹ thuật thực hiện nghiên cứu ứng dụng.

Điều này cũng có nghĩa là: Thứ nhất giáo trình môn học phải vượt qua giới hạn "giáo trình truyền thống" chủ yếu cung cấp thông tin. Tính xuyên môn và xuyên ngành sẽ là các tính trội của các giáo trình và chương trình đạo.

Thứ hai, người giảng viên phải là một nhà nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Giảng viên phải thấy được tính "sống còn" của nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, của dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, tâm huyết với nó, biết cách tìm tòi và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh, biết cách tổ chức dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Chỉ trường hợp này người dạy mới có thể hướng dãn người học nghiên cứu được.

Thực tiễn cho thấy để đạt được điều này đòi hỏi phải thành lập các nhóm nghiên cứu, giảng dạy, tập hợp các nhà giáo nhà nghiên cứu sư phạm đa ngành thuộc nhiều chuyên môn khác nhau.

Họ vừa cùng nhau thực hiện những đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, cùng trao đổi để bồi dưỡng cho nhau về nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, về dạy học theo hướng này.

Thứ ba, các phương tiện phục vụ học tập, nhất là tài liệu dạy học phải đa dạng, đầy đủ theo hướng phục vụ nghiên cứu. Bên cạnh những phương tiện, tài liệu truyền thống như: Tài liệu lý thuyết, phòng thực hành cần nhiều sự đầu tư cho những tư liệu thuộc về thông tấn khoa học để người học vừa tìm kiếm được tri thức và kỹ thuật dạy học, kỹ thuật nghiên cứu vừa có lộ trình tiếp cận phù hợp với quá trình học tập các các môn học. Mặc khác khi tiến hành hành nghiên cứu sẽ không sao chép, nghiên cứu trùng lặp một cách không cần thiết.

Thứ tư, phương kiểm tra, đánh giá phải hướng trước hết vào đánh giá năng lực tự học, tự nghiên cứu, khả năng sáng tạo của người học, chuyển từ đánh giá cuối môn học, cuối học kỳ sang các hình thức đánh giá quá trình, đánh giá theo từng công đoạn của quá trình học tập, nghiên cứu.

Thứ năm, việc quản lý quá trình dạy học phải dịch chuyển theo hướng gắn với thực tiễn dạy học, giáo dục, hình thành năng lực hơn là hình thành tri thức hàn lâm và kỹ năng riêng rẽ, gắn với nhữn đặc thù của việc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng hơn là của việc dạy học theo khuôn mẫu có sẵn.

Thứ sáu, xây dựng và duy trì sự bền vững một hệ thống các cơ sở nghiên cứu và thực hành sư phạm. Hệ thống cơ sở này được xây dựng trên nguyên tắc vì lợi ích của hai bên.

"Dạy học theo nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đòi hỏi trước hết nội dung phải được thiết kế hướng vào các vấn đề, câu hỏi thực tiễn cụ thể của từng môn học hay lĩnh vực ứng dụng. Phải cấu trúc lại chương trình môn học theo chủ đề thực tiễn giao dục đòi hỏi là chủ yếu thay cho cấu trúc logic của khoa học mang tính hàn lâm".

Thạc sỹ Bùi Văn Vân

Cập nhật ngày Thứ bảy, 17 Tháng 10 2015 00:14

Bài hát về trường THPT Thanh Chương 3

  • PDF.

Download Embed Embed this video on your site

Cập nhật ngày Thứ tư, 14 Tháng 10 2015 13:23

SV ngoại thương làm nóng mạng với hùng biện hôn môi

  • PDF.

(TCIII)-Lần tái xuất này, Đinh Đức Tâm, sinh viên trường ĐH Ngoại thương TP.HCM diễn cùng với diễn viên hài Minh Nhí trên một sân khấu lớn của chương trình Tài Tếu Tuyệt và chàng trai lại khiến khán giả ở đây cười lăn.

Chất giọng đặc biệt và phong cách hài hước của Đinh Đức Tâm không hề mờ nhạt trước danh hài Minh Nhí. Cách trình diễn gần gũi của Minh Nhí kết hợp với lối hùng biện vừa hài hước, vừa thuyết phục của Đức Tâm làm cho tiểu phẩm hết sức vui nhộn. Bước vào chương trình, đàn anh Minh Nhí đã khiêm tốn cho biết “đã nghe nhiều về Đức Tâm…”.

“Hôn môi trao nhau hàng triệu con vi trùng và hình thành những kháng thể mới mà khoa học gọi là miễn dịch giao thoa…hôn môi để giảm cân và làm đẹp…” Mỗi một lý do khiến người ta hôn môi, Đức Tâm lại lý giải một cách hóm hỉnh bằng những dẫn chứng bất ngờ làm người nghe công nhận: yêu nhau thì tất nhiên… sẽ rất hay hôn môi!

Get Adobe Flash player

Sở trường của  Đinh Đức Tâm là khả năng liên kết các kiến thức khoa học riêng lẻ của hiện tượng và biến chúng thành những lời hùng biện vừa thuyết phục, vừa dí dỏm.

Trước đó, ở cuộc thi  FTUer It’s Me 2011 tại Trường ĐH Ngoại thương TP HCM, trong phần thi tài năng, Đức Tâm đã khiến mọi người cười nghiêng ngả với bài hùng biện Vì sao phải nói nhiều và giành được giải Nhất.

Khả năng chọc cười một cách rất văn hóa bằng kiến thức khoa học và lời dẫn dắt dí dỏm của Đức Tâm luôn khiến người nghe mong chờ những cách hùng biện bất ngờ, vui vẻ của anh chàng sinh viên tài hoa này.

Trong cộng đồng mạng, Đức Tâm đã trở thành một ngôi sao nổi tiếng với tài hùng biện hài hước của mình.

Cập nhật ngày Thứ tư, 23 Tháng 11 2011 04:23

Luật GDĐH hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo

  • PDF.

(GD&TĐ) - Sáng nay 2/11, trong phiên làm việc toàn thể tại hội trường, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, các đại biểu Quốc hội đã dành thời gian nghe Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và Báo cáo thẩm tra dự án Luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật bảo hiểm tiền gửi và Báo cáo thẩm tra dự án Luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật tài nguyên nước (sửa đổi) và Báo cáo thẩm tra dự án Luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật giáo dục đại học và Báo cáo thẩm tra dự án Luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tờ trình của Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII.

Cụ thể hoá các quy định về GDĐH

Dự án Luật Giáo dục Đại học (sẽ gọi là Dự án Luật GDĐH) là một trong những Dự án Luật quan trọng của Chính phủ trình lên Quốc hội xin ý kiến tại Kỳ họp lần này và dự kiến sẽ tiếp tục chỉnh sửa, hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu ý kiến đóng góp của các đại biểu Quộc hội để trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp tiếp theo.

Tờ trình của Chính phủ về Dự án Luật do Bộ trưởng Phạm Vũ Luận - thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ - trình bày trong phiên làm việc sáng nay. Đây là lần đầu tiên Dự luật quan trọng về GD&ĐT này được đưa ra nghị trường Quốc hội.

Khẳng định về sự cần thiết ban hành Luật GDĐH, Tờ trình nêu rõ trong bối cảnh GDĐH Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với hệ thống GDĐH trong khu vực và trên thế giới, việc ban hành Luật GDĐH là cần thiết để điều chỉnh các hoạt động GDĐH phù hợp với các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên, quản lý tốt hơn hoạt động hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực GDĐH. Vì vậy, việc ban hành Luật GDĐH là cần thiết, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc, thống nhất cho sự phát triển của GDĐH và thực hiện các mục tiêu của GDĐH.

Xét trên góc độ quy phạm pháp luật, đây là luật chuyên ngành đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động GDĐH, cụ thể hóa các quy định còn mang tính khái quát trong Luật GD về GDĐH.

Cụ thể là: Quy định về cơ sở GDĐH (Điều 7); Chính sách của Nhà nước về phát triển GD ĐH (Điều 10); Hội đồng trường (Điều 14), Hội đồng quản trị (Điều 15), Hiệu trưởng (Điều 16); Thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cho phép, đình chỉ hoạt động đào tạo của cơ sở GDĐH (từ Điều 18 đến Điều 22); Chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh (Điều 30); Chương trình đào tạo, giáo trình GDĐH (Điều 32); Văn bằng GDĐH (Điều 34); Hoạt động khoa học và công nghệ (Chương V, từ Điều 35 đến Điều 38); Hoạt động hợp tác quốc tế (Chương VI, từ Điều 39 đến Điều 42); Bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng GDĐH (Chương VII, từ Điều 43 đến Điều 47).

Tờ trình nêu rõ một số nội dung quy định tại Luật GD được sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật GDĐH đáng chú ý như:

Tại Điều 41 của Luật GD quy định về Chương trình khung, dự thảo Luật GDĐH giao cho Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định về: “Chuẩn tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy định các môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo đối với các trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài; quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng tài liệu giảng dạy, giáo trình giáo dục đại học” (được thể hiện tại khoản 3 Điều 32 của dự thảo Luật).

Dự thảo Luật GDĐH bổ sung quy định về cách xác định chỉ tiêu tuyển sinh: “Chỉ tiêu tuyển sinh được xác định trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với các điều kiện về số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên; cơ sở vật chất và thiết bị” (được thể hiện tại khoản 1 Điều 30 của dự thảo Luật).

Dự thảo Luật GDĐH sửa đổi và bổ sung quy định về hội đồng trường đối với cơ sở giáo dục đại học công lập so với quy định tại Điều 52 của Luật GD (được thể hiện tại Điều 14 dự thảo Luật) như sau: Hội đồng đại học, hội đồng trường (gọi chung là hội đồng trường) được thành lập ở các cơ sở giáo dục đại học công lập; Chủ tịch hội đồng trường là hiệu trưởng hoặc giám đốc; Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về hội đồng trường.

Bên cạnh đó, Tờ trình cũng cho biết Dự Luật bổ sung quy định về cách xác định chỉ tiêu tuyển sinh trên cơ sở các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, bao gồm số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên; cơ sở vật chất và thiết bị. Các nội dung về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của đại học, đại học quốc gia; về bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục, về lợi nhuận và phi lợi nhận; về xã hội hóa và công bằng xã hội trong giáo dục đại học… cũng đã được đề cập trong bản dự thảo Luật.

Hầu hết các vấn đề lớn của GDĐH đã được đề cập

Sau khi nghe Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật GDĐH, Quốc hội đã nghe Báo cáo thẩm tra dự án Luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do Chủ nhiệm Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội Đào Trọng Thi trình bày.

Báo cáo thẩm tra cho biết, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhất trí với việc cần thiết ban hành Luật GDĐH để thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới và phát triển GDĐH; tạo hành lang pháp lý thuận lợi và thống nhất để điều chỉnh toàn diện các vấn đề liên quan đến GDĐH, góp phần đổi mới căn bản và toàn diện GDĐH Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. 

Về quan điểm, nguyên tắc xây dựng Luật, Báo cáo thẩm tra cho biết Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với quan điểm, nguyên tắc xây dựng Luật GDĐH trình bày tại Tờ trình của Chính phủ và nhấn mạnh: Thứ nhất, việc xây dựng Luật phải bảo đảm thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển GDĐH, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược;

Thứ hai, việc xây dựng Luật phải hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; bảo đảm công bằng xã hội trong GDĐH; đổi mới công tác quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH; Thứ ba, với tư cách là luật chuyên ngành, chuyên sâu cho lĩnh vực GDĐH, các quy định trong Luật GDĐH phải cụ thể, chi tiết và phải có tính khả thi cao.

Đánh giá chung của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được thể hiện qua Báo cáo thẩm tra cho thấy về cơ bản, việc xây dựng Dự án Luật GDĐH bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, phù hợp với Hiến pháp; nội dung cơ bản không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật hiện hành; hầu hết các vấn đề lớn của GDĐH đã được đề cập trong Dự thảo Luật; một số quy định trong các văn bản dưới luật về tổ chức, tài chính tài sản, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế,… được thực tiễn kiểm nghiệm và có tính ổn định đã được pháp điển hóa.

Tuy nhiên, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cũng lưu ý Dự thảo Luật vẫn chưa thể chế hóa rõ ràng một số chủ trương, chính sách lớn, chưa giải quyết thấu đáo, triệt để một số vấn đề quan trọng như phân tầng các cơ sở GDĐH, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở GDĐH, cơ chế, chính sách đối với các cơ sở GDĐH tư thục phi lợi nhuận và các cơ sở GDĐH tư thục vì lợi nhuận hợp lý,…; đồng thời, chưa xử lý tốt mối quan hệ giữa Luật Giáo dục hiện hành (luật chung) và Luật GDĐH (luật chuyên ngành); một số điều, khoản thay vì phải được quy định cụ thể ngay trong Luật thì lại được giao cho các văn bản dưới luật sẽ gây khó khăn và chậm trễ cho việc triển khai thi hành Luật trong thực tiễn.

Vì vậy, Ủy ban đề nghị tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh Dự án Luật theo hướng quy định cụ thể, chi tiết hơn nữa để đáp ứng yêu cầu của một luật chuyên ngành và giải quyết sớm, có hiệu quả những vấn đề cơ bản, cấp bách của GDĐH hiện nay.

Theo dự kiến chương trình, ngày 4/11 tới, Dự án Luật GDĐH sẽ được các đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận tại tổ; để đến phiên làm việc ngày 14/11, Quốc hội sẽ đưa ra thảo luận tại Hội trường về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của Dự án Luật GDĐH.

Buổi chiều cùng ngày, các đại biểu thảo luận ở tổ về Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII.

Nhất Nguyên

Cập nhật ngày Thứ tư, 09 Tháng 11 2011 10:06