Wed10182017

Last update01:50:10 AM

Giới thiệu chung

Mạch nguồn Thanh Chương 3

  • PDF.

Đầu thế kỷ XV, làng Cao Môn, tổng Cát Ngạn (thuộc xã Thanh Liên bây giờ) đã sinh ra người con ưu tú - Tiến sĩ Đinh Bô Cương. Ông là người "Phá thiên hoang cổ trại, khai khoa cho văn nghiệp Thanh Chương".

Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: Năm Quang Thuận thứ 8 (1467), vua Lê Thánh Tông cần những người cương trực, biết trị kẻ gian tà để sung vào các chức nội nhiệm. Qua ba lần tuyển chọn nghiêm khắc, một số vị quan chức bị quở trách vì tiến cử không đúng hiền tài. Trong số hàng chục người được tiến cử, có cả Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Vua chỉ để lại giáo thụ Nguyễn Nhân Tùy và Huyện quan Đinh Bô Cương. Nội quan và đình thần ai cũng kinh hãi vì Vua xét người rất nghiêm cẩn, sáng suốt.

Đinh tướng công làm quan tới chức Hình bộ Thượng thư dưới triều Hồng Đức (1470-1497), triều Cảnh Thống (1498-1504). Đời Lê Hiến Tông, niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499), tổ chức khoa thi Đình, Vua sai Thượng thư bộ Hình Đinh Bô Cương làm Giám thí.

Ông còn là người có công lớn trong việc chiêu dân, lập ấp, khai khẩn nên các xã vùng hữu ngạn tổng Cát Ngạn, tức là các xã Thanh Đức, Hạnh Lâm, Thanh Mỹ, Thanh Liên bây giờ. Sau khi nghỉ việc quan, Đinh Bô Cương về quê, ngược dòng sông Giăng, khai khẩn đất hoang, vừa canh tác vừa mở trường dạy học theo phương thức "Dĩ nông tàng Nho" (coi trọng nông nghiệp để mở mang sự học), vừa chiêu tập dân đinh, khai khẩn hoang hóa thành làng Môn Trang (Trang ấp người Cao Môn), vừa cho xây dựng con đập cùng công trình dẫn thủy nhập điền vào cánh đồng Môn Điền.

Truyền thuyết còn kể rằng, khi ông về đây, vùng này còn hủ tục cưới vợ cho Hà Bá. Cuối năm 1497, ông nhiều lần cùng quân lính và tráng đinh khỏe mạnh đi thuyền lên thượng nguồn sông Giăng, gọi là thăm Hà Bá, nhưng cốt là chỉ cho mọi người biết lý do tại sao mỗi năm lại có lũ lụt. Ông cho người về kinh, thuê người vẽ địa đồ, cho di dời dân chúng ra khỏi nơi nguy hiểm, dạy dân cách dựng nhà cho kiên cố, lại dâng biểu xin Vua cho đắp đập sông Giăng. Biểu dâng nhiều lần nhưng chưa được Vua phê duyệt thì ông mất. Với sự sáng suốt, đúng đắn, ông đã xóa bỏ được tục cưới vợ cho thần sông Giăng, đem lại cuộc sống thanh bình cho dân chúng. Ông được người dân tôn vinh là "thành hoàng làng" và làm lễ tế vào ngày 6-6 âm lịch hàng năm.

Nguyễn Thế Bình, sinh năm 1746 tại xã Cát Ngạn (Cát Văn bây giờ). Ông thi đỗ Tứ Trường năm 28 tuổi. Năm Ất vị (1775), đỗ Tam giáp Tiến sỹ và được nhà vua bổ nhiệm là Kinh Bắc dụ. Được hưởng chế độ ưu đãi ruộng đất nhưng vì thương dân nghèo khó, không đủ ruộng cày nên ông đã nhận vùng đồi Triều Sơn sỏi đá (Rú Treo ngày nay) làm lộc vua ban.

Bấy giờ, Đặng Mậu Lân (là em ruột của vợ Chúa Trịnh); phạm tội ỷ thế chị, ngang tàng, hống hách. Triều đình không ai dám nhận xét xử. Là ông quan thanh liêm, cương trực, nổi tiếng văn võ song toàn, trực tiếp xử vụ án, Nguyễn Thế Bình đã rất cương quyết, trị tội đích đáng. Phán quyết của quan Đốc Đồng làm cho quần thần ai cũng nể trọng, làm nên sự kiện lưu truyền sử sách.

Đinh Nhật Thận, người làng Tiên Hội (Thanh Tiên bây giờ), người có công lập nên làng Gia Hội. Ông nổi tiếng là người thông minh, nhớ lâu và giỏi thơ văn. Năm Mậu Tuất (1838), dưới triều vua Minh Mạng, ông đỗ Tiến sĩ. Cao Bá Quát từng nói: Cả nước có bốn bồ chữ thì Quát một bồ, Thận một bồ, còn hai bồ rải trong thiên hạ(!). Ông làm quan, chỉ vỉ thẳng thắn, bênh vực người nghèo mà bị cách chức. Khi được phục chức, ông cáo quan, về quê dạy học, bốc thuốc.

Có thể mượn lời của người xưa khi nói về Nguyễn Thế Bình mà khái quát cho các cụ Nghè Cát Ngạn:

Kim Sơn chi tú
Lam Thủy chi ông
Ngọc đường khoa giáp
Bạch ốc công khanh
Tại triều dĩ chính
Xuất quận năng thanh

Đại ý rằng: Con người được hấp thu tú khí của núi Kim Nhan, dòng Lam Giang, đã vào hàng khoa giáp - công khanh. Ở trong triều đình đã cương trực, thẳng thắn theo phép nước, nổi tiếng khắp mọi nơi.

Lại nhớ lần cùng về thăm văn bia Tổng Cát Ngạn, một cụ am hiểu nhiều về phong thủy có nói: Từ xưa, các cụ nho học Cát Ngạn truyền nhau rằng ở đâu nhìn thấy ngọn Tháp Bút thì ở đó sự học phát triển.

Ba ông Nghè sinh ra trên vùng Cát Ngạn, hấp thu tú khí của Kim Nhan, Đại Can, Tháp Bút; tắm mình trong văn hóa sông Lam, các cụ là những tấm gương về sự khổ học, lòng yêu nước, thương dân, thẳng thắn, thanh liêm, quyết không khuất phục trước bạo lực, cường quyền. Các cụ là những kẻ sĩ nổi tiếng về học vấn nhưng họ còn nổi tiếng hơn vì những nhân cách lớn. Những nhân cách ấy chắc chắn có những ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống của cộng đồng người ở đây, góp phần luận giải theo nghĩa tích cực của thành ngữ "Trai Cát Ngạn"?

Từ năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764), Tổng Cát Ngạn đã có văn bia nhưng chưa đầy đủ. Tháng  9 năm Ất Sửu năm Khải Định thứ 10 (1925), Hội Văn của Tổng đã dựng văn bia, ghi lại 4 vị đỗ đại khoa, 19 vị đỗ trung khoa, 61 vị đậu Tú tài và 230 vị sinh đồ.

Sự hiếu học cứ theo đó mà nhân lên, thế hệ nối tiếp thế hệ, như một mạch nguồn vô tận, vô cùng. Từ trước Cách mạng tháng 8-1945, trên mảnh đất này đã có thầy Mai Xuân Châu, cáo quan về quê mở trường tư thục Thổ Sơn, dạy học. Từ mái trường này, rất nhiều người thành danh, trở thành những trí thức cách mạng.

Nhiều người tâm đắc với anh Nguyễn Sĩ Đại khi nghĩ chuyện ông Đồ Nghệ với con cá gỗ: Nghèo quá, trẩy kinh ứng thí mà chỉ có con cá gỗ. Cá gỗ để xin nước mắm nhà hàng cho đỡ xấu hổ. Nhưng có lẽ sâu xa hơn, con cá gỗ như một lời tự nhắc nhở cho mình rằng, nếu có đỗ đạt, có được làm quan thì mới được đổi đời, mới có cơm cá mà ăn. Và việc học không chỉ nhằm thay đổi số phận cá nhân; mà còn thể hiện chí giúp đời, giúp nước; khẳng định sự tồn tại hữu ích, mong muốn trường tồn.

Thì ra, cái gia tài nghèo khó mà những con người mang đi khi xa quê lại là những "báu vật" tinh thần để tạo ra một nội lực phi thường, giúp họ vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Thì ra, trên những mảnh ruộng đất bậc thang đã bạc màu, cây lúa, cây ngô phải oằn mình trong bão, dông, lụt, hạn lại chính là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm sự học. Sự học đã giúp con người ở đây phá đi cái thế "tứ tắc" từ giao thông, đến cái “bế tắc” về nhận thức để tiếp cận, giao lưu và phát triển... và cũng có thể hiểu vì sao Cát Ngạn cũng nổi tiếng với vùng quê mà ở đó "Người vượt đất"!

Phải chăng, đó là nguyên nhân căn bản, quan trọng để làm nên một thương hiệu, một tên tuổi của trường Thanh Chương 3 suốt bốn chục năm qua?

Ngược dòng thời gian, giữa thời kỳ Mỹ mở rộng chiến tranh ác liệt ra miền Bắc, trường cấp 3 Thanh Chương 1 đã từng bị ném bom phá hoại. Trường phải sơ tán về các xã Thanh Lĩnh, Thanh Tiên. Năm 1972, theo chủ trương của cấp trên, trường cấp 3 Thanh Chương 1 được tách ra phân hiệu 2. Cả vùng phấn khởi vì thời đó, hầu hết học sinh chỉ đi bộ, ở nhờ trong nhà dân, việc tách trường đã giảm được cung đường đáng kể. Trường chuyển về trại phụ lão Mẹ Ưởn (Mẹ là đại biểu Quốc hội khóa IV). Thầy giáo Nguyễn Tài Ngô – Phó Hiệu trưởng, thầy Lê Đình Vợi – Bí thư Chi bộ, thầy Vương Đình Niêm – Hiệu phó. Bên cạnh những thầy, cô giáo đã có nhiều kinh nghiệm như thầy Nguyễn Tiến Ích, thầy Hồ Sĩ Cang, thầy Nguyễn Nguyễn Tấn Ngọc, cô Hồ Thị Hồng,… là những thầy, cô giáo trẻ nhưng đầy nhiệt huyết như thầy Trần Xuân Thao, thầy Nguyễn Văn Lan, thầy Hà Anh Tuấn, thầy Nguyễn Trọng Ngọ, thầy Nguyễn Hữu Quyền,… họ thuộc thế hệ khai mở đầu tiên của trường. Ngày ấy, những tên lớp A-B-C-D… đều ở phân hiệu 1, ở phân hiệu 2 có tên là M-N-I-K…

Do những hạn chế của hoàn cảnh, đến nay không còn được mấy những phim, ảnh tư liệu của thuở ban đầu. Nhưng trong ký ức của nhiều thế hệ thầy, trò vẫn không thể nào quên những hàng bạch đàn dọc ngang cao vút, những đồi cây tỏa bóng như muốn ôm ấp, chở che cho mọi hoạt động của hơn nghìn con người. Những dãy nhà tranh, vách nứa nhưng vẫn ngay ngắn, sạch sẽ. Những lớp học được bao quanh bởi các thành lũy, hầm hào để tránh bom đạn. Những dãy lán, trại sơ sài của học trò ở xa được dựng lên. Hàng trăm con người dùng nước từ cái giếng tạm phía rìa Trại cụ Uởn. Chiều chiều, các khối lớp vẫn có giải bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn với tiếng cười rộn rã. Đêm đêm, thầy trò cùng thức bên ngọn đèn dầu phòng không. Nhiều tiết học phải đứt quãng vì máy bay Mỹ đánh phá; thầy trò phải ra hầm trú ẩn. Đã có những trận bom Mỹ đánh vùng đò Cận, nhiều người, gia súc bị sát hại, nhà cửa tan hoang.

Trong hoàn cảnh ấy, nhiều thầy, cô giáo vẫn đạt giáo viên dạy giỏi của Tỉnh; nhiều học sinh vẫn được công nhận là học sinh giỏi Tỉnh, học sinh giỏi miền Bắc, nhiều học sinh thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng. Nhiều thế hệ thầy trò phải tạm gác sách, bút lên đường đi đánh giặc. Trong số đó, có những người ra đi mãi mãi, tuổi thanh xuân của họ sống mãi  cùng đất nước...

Năm 1975, đất nước thống nhất. Theo quyết định của UBND Tỉnh, trường cấp 3 Thanh Chương 3 chính thức được thành lập trên cơ sở phân hiệu 2 của trường cấp 3 Thanh Chương 1.

Đến năm học 1984-1985 trường có quyết định chuyển từ nơi sơ tán đến địa điểm hiện nay. Chiến dịch di chuyển địa điểm được triển khai trong một hè rất quyết liệt. Vừa học vừa xây dựng. Thầy và trò vừa dạy, học vừa đóng gạch, nung vôi để xây trường… Trường còn là một điểm sáng trong lao động hướng nghiệp, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc trên 5 ha bạch đàn, keo tai tượng; ươm chè cành PH1, lai ghép các loại cây.

Ngày 24 tháng 10 năm 1995, trường được Chủ tịch nước tặng “Huân chương Lao động hạng 3”.

Theo số liệu thống kê của trường, từ ngày thành lập đến nay đã có gần 20.000 học sinh tốt nghiệp THPT từ mái trường này; hàng nghìn học sinh đậu vào các trường Cao đẳng - Đại học. Trên Bảng vàng truyền thống ghi lại những con số ấn tượng về thành tích học tập của các anh chị qua các thời kì, với gần 710 người đạt danh hiệu HSG cấp tỉnh; trong đó có 8 giải nhất, có 3 người đạt danh hiệu HSG Quốc gia, 1 người đạt danh hiệu HSG miền Bắc. Thành tích về học sinh giỏi của nhà trường nhiều năm đứng đầu trong huyện và tốp đầu trong tỉnh, nổi bật năm học 2004- 2005 có 56 em đạt giải xếp thứ 2 trong tỉnh chỉ đứng sau trường chuyên Phan Bội Châu.

Nếu ai từng để ý: Nhiều năm, điểm thi tuyển vào lớp 10 của trường thấp hơn một số trường bạn từ 10-15 điểm (là sự chênh lệch không ít); nhưng khi thi vào Đại học, tỷ lệ đỗ và số học sinh đạt điểm cao của trường Thanh Chương 3 lại “ngang ngửa” – thậm chí cao hơn trường bạn có điểm đầu vào cao hơn hẳn thì mới thấy sự nỗ lực của thầy và trò thật đáng trân trọng, tự hào.

Với quy mô hiện tại trường có 34 lớp gần 1300 học sinh; về đội ngũ giáo viên, nhân viên có 92 người, 100% giáo viên đạt chuẩn, 12 thạc sỹ, 1 GV đang nghiên cứu sinh, 5 GV đang học Cao học, 12 GV giỏi cấp tỉnh, 9 chiến sĩ thi đua cấp cơ sở…Thế hệ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh của nhà trường ngày hôm nay tiếp tục phát huy truyền thống Dạy tốt - Học tốt, điểm lại một số kết quả chuyên môn đạt được trong 3 năm gần đây tho thấy:

Năm học 2012- 2013: Thi ĐH-CĐ, tổng điểm bình quân 14.18, đứng thứ 510 toàn quốc, vượt lên 234 bậc so với năm 2011-2012, xếp thứ 18 của Tỉnh, thứ 2 toàn Huyện (là một trong 3 trường của Nghệ An có điểm bình quân tăng hơn 3 điểm so với năm trước). Thi HSG lớp 12 cấp tỉnh đạt giải chiếm tỷ lệ 78,6% xếp thứ 14 trong toàn Tỉnh. Năm học 2013- 2014: 100% học sinh đỗ Tốt nghiệp THPT, trong đó có 42 em tốt nghiệp Giỏi, đứng thứ 5 trong toàn tỉnh, dẫn đầu các trường trong huyện. Đặc biệt, trong kì thi  ĐH-CĐ trường có 3 thủ khoa, 1 á khoa. Kết quả 2 kì thi HSG Tỉnh K11&K12 trường đều được xếp vị thứ 11 của Tỉnh, xếp thứ hạng chung dẫn đầu trong Huyện. Năm học 2014- 2015: Trong kỳ thi THPT Quốc gia, tỉ lệ đậu tốt nghiệp 99,6% đứng đầu trong Huyện. Tổ hợp 3 môn Văn - Sử - Địa, có 1 em đạt tổng số điểm thi 27 điểm, số lượng các em đạt điểm cao ở các tổ hợp môn thi tuyển sinh tăng lên rất nhiều so với các năm trước. Thi HSG lớp 11 cấp tỉnh đạt giải chiếm tỷ lệ 64,3% xếp thứ 15 trong toàn Tỉnh, đứng đầu trong Huyện. Một em đạt giải nhất IOE môn Tiếng Anh của tỉnh và đạt huy chương đồng IOE cấp Quốc gia.

Nghĩ đến Thanh Chương 3 là người ta nghĩ đến ngôi trường ghi dấu ấn đậm nét của công tác xã hội hóa giáo dục. Quê nghèo, trường nghèo đã trở thành nơi neo đậu của những tấm lòng. Những tình cảm, những việc làm thiết thực với quê, với trường của họ đã vượt ra khỏi ranh giới của vùng, của huyện vì sự đi tiên phong, sự vô tư, tâm huyết và hiệu quả.

Trước hết phải nhắc đến Tiến sỹ Võ Văn Hồng – Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Bến Thành – Matxcơva. Có lẽ, từng là người lính cầm súng bảo vệ Tổ quốc nên đã thấm trong anh giá trị của cuộc sống thanh bình; có lẽ thời gian học tập, nghiên cứu, bươn chải ở nước ngoài lại càng day dứt trong anh đối với quê nghèo; nghĩ đến quê nghèo, người lính – người thầy từng giảng dạy tại Đại học KTQD đã chọn giúp quê cải thiện giao thông và trường học. Với số tiền hơn 3 tỷ đồng mà anh tài trợ từ những năm 1997, 2003,…  có thể nói là rất lớn; năm 2000 thu ngân sách huyện mới chỉ đạt 5,4 tỷ đồng và bây giờ muốn xây một cơ sở như vậy ít nhất cũng phải 20 tỷ đồng. Sự tài trợ ấy không chỉ là một “cú hích” mà thật sự là điều kiện quyết định để trường được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1 từ năm 2009.

Rất nhiều thầy và trò THPT Thanh Chương 3 đã và đang học tập, công tác khắp mọi miền Tổ quốc và nước ngoài. Những lần giao lưu, gặp mặt truyền thống tại Hà Nội, tại TP. Hồ Chí Minh, tại Vũng Tàu, tại Đà Nẵng, tại Vinh, tại Dùng, tại các xã trong cụm,… có những thầy giáo già đã nghỉ hưu; có những cựu học trò nay đầu đã bạc; có những người nay là GS, TS, Nhà giáo ưu tú; có nhiều người đang giữ các trọng trách trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Lực lượng vũ trang; nhiều người là doanh nhân thành đạt; có cả những cháu mới ra trường… Nhưng họ có những điểm chung là vẫn vẹn nguyên những kỷ niệm với thầy cô, bạn bè; rất tự hào mình là học sinh của trường THPT Thanh Chương 3; họ chia sẻ, lo lắng với những khó khăn, những lúc trầm, buồn của trường. Họ theo dõi sát sao, phấn khởi khi mỗi mùa thi, thầy và trò không để thua em, kém chị! Có những cựu học sinh ra trường mới mươi, mười lăm năm đã giúp trường hàng chục triệu đồng, có những nhóm, lớp dù chưa khá giả nhưng cũng ‘góp gió thành bão”, giúp trường mua sắm thêm CSVC, thiết bị, khuyến học, khuyến tài, tổ chức giao lưu, gặp mặt, tri ân với thầy cô, nhà trường. Đội ngũ cựu học sinh ngày càng lớn mạnh. Họ là một phần máu thịt, là tài sản quý giá của Thanh Chương 3 mà không phải trường nào cũng có được.

Có câu hỏi “làm khó” nhiều người quê ta là “học giỏi nhưng sao vẫn nghèo”? thì xin thưa: Nếu tiếp xúc, trao đổi với nhiều người Thanh Chương ở xa quê, trong đó có cựu học sinh Thanh Chương 3 thì sẽ thấy sao lại gọi là nghèo? Điều đáng quý là không những họ khá giả về vật chất mà còn rất sâu nặng nghĩa tình. Vì họ sinh ra nơi “người vượt đất”, họ là người có học, là những “kẻ sĩ thời hiện đại”! Phải chăng, những người thầy ở đây đã thực hiện “hai kiểu giáo dục: Một kiểu dạy chúng ta làm thế nào để sống, và kiểu còn lại dạy chúng ta phải sống như thế nào?” (John Adams).

Cuộc đời là những chuyến đi. 40 năm, có lúc thăng, lúc trầm nhưng từ mái trường này, bao thế hệ đã trưởng thành, công tác ở các lĩnh vực, các cấp, các vùng khác nhau. Có cả một số thầy cô đã sang thế giới vĩnh hằng theo quy luật nghiệt ngã muôn đời của tạo hóa... Bao nhiêu con người đã nặng lòng với công cuộc trồng người? “Thời vàng son”, đỉnh điểm của Thanh Chương 3 nằm trong quá khứ, hiện tại hay ở “thì tương lai”? Có phải ai cũng muốn nó đang nằm phía trước?

Mái trường thân yêu từng chứng kiến bao mùa thu lá bàng xanh ngày tựu trường rộn ràng, hớn hở; hoa phượng đỏ cháy bao ngày hè xao xuyến, thổn thức mỗi mùa thi… Như những chuyến đò nhẫn nại, mái trường thân yêu bịn rịn tiễn người đi với bao lưu luyến, kỳ vọng, mong chờ; dang tay đón người mới với những nụ cười tươi trẻ, thân thiện, lặng lẽ làm nên một nơi lưu giữ những kỷ niệm thân thương, bình dị mà đi suốt cuộc đời vẫn làm xao động, khắc khoải con tim của bao thế hệ con người, không thể nào quên.

Góp một tiếng lòng với những con người, với một ngôi trường và một miền quê mãi mãi chúng tôi tri ân, sâu nặng cái nghĩa, cái tình. Thanh Chương 3 của miền quê Cát Ngạn thân thương đang hứa hẹn những mùa gặt bội thu!

Đặng Anh Dũng

Cập nhật ngày Thứ bảy, 07 Tháng 11 2015 13:16